in

Honda Vs Toyota: Ai tạo ra những chiếc Ô tô thể thao ngân sách tốt hơn

Toyota xây dựng những phương tiện đáng tin cậy nhất, trong khi Honda tập trung vào tốc độ và khả năng xử lý. Nhưng ai là người chế tạo ra những chiếc xe thể thao tốt hơn?

Ngành công nghiệp ô tô đầy rẫy sự cạnh tranh khốc liệt và có lẽ người hưởng lợi lớn nhất từ những cuộc cạnh tranh này là những người mua ô tô. Đối với các đối thủ cạnh tranh ô tô nóng nhất, bạn có thể nhìn vào châu Âu và châu Mỹ, nhưng các nhà sản xuất Nhật Bản cũng không hề ngoại lệ. Và sự cạnh tranh khốc liệt nhất đó là giữa Toyota và Honda, những người đứng ở vị trí cao nhất của chuỗi thức ăn. Trong những năm qua, hai hãng này đã liên tục tung ra đội quân xe thể thao với các mức độ tin cậy, tiện nghi, hiệu suất năng động và khả năng chi trả khác nhau.

Khi so sánh những chiếc xe thể thao của hai gã khổng lồ này, người ta có thể dễ dàng nhận thấy những lĩnh vực khác nhau mà họ tập trung vào khi tạo ra những chiếc xe. Do phụ thuộc rất nhiều vào độ tin cậy, Toyota phải mất thời gian trước khi giới thiệu công nghệ mới, trong khi Honda thì ngược lại, có radar về tốc độ tối đa và khả năng xử lý vượt trội. Bài viết này so sánh giữa Toyota và Honda, xem ai sản xuất những chiếc xe thể thao giá cả phải chăng mà tuyệt vời hơn.

1. Honda CR-X Del Sol 1993

CR-X del Sol là một chiếc roadster 2 chỗ dựa trên nền tảng Honda Civic và được cung cấp cho những năm mẫu 1993-1998. Khi được phát hành tại Bắc Mỹ vào năm 1993, nó có 2 phiên bản lấy sức mạnh từ động cơ SOHC Honda D-series.

Tự hào với hàng tấn các tính năng, nó là chiếc xe sản xuất đầu tiên của Honda vượt qua mốc 100 mã lực. Tuy nhiên, sẽ không ai buộc tội nó là một chiếc xe cơ bắp. Del Sol là một chiếc xe Nhật Bản thú vị, thoải mái, đáng tin cậy và đáng đồng tiền.

2. Honda Integra Type R 1997

Honda Integra, được bán trên thị trường với cái tên Acura Integra ở Bắc Mỹ, là một phiên bản thể thao và sang trọng hơn của Honda Civic. Hoạt động rất tốt trên thị trường khi nó được giới thiệu vào năm 1985, Integra ngày càng trở nên tốt hơn trong những năm mô hình tiếp theo.

Sau đó, đến Type R, một thập kỷ sau, với hiệu suất và khả năng xử lý được cải thiện, nhờ công suất cao hơn và trọng lượng lề đường (curb weight) giảm. Ngoài ra, cấu trúc đã được làm cứng lại và tính khí động học đã được cải thiện để tạo ra một chiếc xe được cho là dẫn động cầu trước tốt nhất do Honda sản xuất.

3. Honda S2000 CR 2008

Được đặt tên cho động cơ 2 lít và ra mắt vào năm 1999 để đánh dấu kỷ niệm 50 năm thành lập Honda, S2000 đã được cung cấp trong một phiên bản ở Mỹ trong 9 năm mô hình. C.R. (Club Racer), một phiên bản hướng đến đường đua hơn được ra mắt tại Triển lãm Ô tô Quốc tế New York 2007, đã được thêm vào phiên bản cơ sở cho năm mô hình 2008.

Động cơ I-4 2,2 lít hút khí tự nhiên cho công suất 237 mã lực và mô-men xoắn 220 Nm thông qua hộp số sàn 6 cấp tới bánh sau. Với số lượng chỉ 699 xe so với kế hoạch 1400, S2000 CR là chiếc Honda nhỏ bé hiếm hoi có thời gian chạy 0-100 km/h là 5,7 giây.

4. Honda CR-Z 2016

Khi được trưng bày dưới dạng xe ý tưởng vào năm 2007 tại Tokyo Motor Show, CR-Z dự kiến sản xuất là phải thể thao, hiệu quả và giá cả phải chăng. Khi bắt đầu được bán ra vào năm 2010, Honda CR-Z 2 chỗ đã chứng tỏ là một trong những phương tiện ít gây ô nhiễm nhất trên thị trường.

Đối với mẫu xe cuối cùng vào năm 2016, CR-Z đã được cung cấp 3 phiên bản trang bị hệ thống truyền động hybrid sản sinh công suất 130 mã lực. Nó được J.D. Power đánh giá độ tin cậy trên mức trung bình là 3,5 và là một trong những mẫu hybrid duy nhất cung cấp hộp số tay.

5. Honda Civic Type R 2021

Civic Type R, được giới thiệu vào năm 1997, là biến thể hiệu suất cao của Honda Civic và dựa trên Civic thế hệ thứ sáu. Đối với mẫu xe năm 2021, Type R Civic gây thất vọng với kiểu dáng thân xe trẻ trung và âm thanh hấp dẫn nhưng lại gây ấn tượng ở tất cả các tính năng khác.

Chiếc xe có đủ sức mạnh từ động cơ tăng áp 2 lít 4 xi-lanh tiết kiệm nhiên liệu, sản sinh công suất 306 mã lực và mô-men xoắn 400 Nm thông qua hộp số sàn 6 cấp. Nhanh, thoải mái và thực dụng, Civic Type R cứ như ở nhà, dù trên đường đua hay đường phố.

6. Toyota GR86 2022

Trước đây được bán trên thị trường với tên gọi GT86 hoặc 86, Toyota GR86 là chiếc coupe fastback 2 cửa thế hệ thứ hai được hợp tác phát triển với Subaru BRZ. Hoàn toàn mới cho năm mô hình 2022, GR86 được giới thiệu vào tháng 4 năm 2021 và dựa trên Nền tảng Toàn cầu của Subaru.

Cung cấp sức mạnh cho GR86 là động cơ 4 xi-lanh loại boxer 2.4 lít cho công suất 228 mã lực và mô-men xoắn 250 Nm tới bánh sau, thời gian 0-100 km/h trong khoảng 6 giây. Khả năng xử lý thú vị của GR86 mới bổ sung cho động cơ mạnh mẽ của nó và các tính năng an toàn tích cực hơn được cung cấp, mang lại lợi thế cho nó so với các đối thủ.

7. Toyota GR Supra 2021

GR Supra bắt đầu ra đời vào năm 1978 với tên gọi Celica Supra và được giới thiệu lại vào năm 2019 cho thế hệ thứ năm sau 3 thập kỷ gián đoạn. Đối với phiên bản năm 2021, tùy chọn động cơ 2 lít sản sinh công suất tối đa 255 mã lực và mô-men xoắn cực đại 400 Nm.

Mặc dù không được trang bị hệ thống treo thích ứng như các phiên bản cao hơn, nhưng Supra cấp phiên bản cơ sở vẫn mang lại cảm giác lái thú vị. Mang lại giá trị tốt hơn so với các đối thủ trong phân khúc xe thể thao sang trọng, G.R. Supra là loại rẻ nhất và cũng đi kèm với các tính năng an toàn và tiện lợi công nghệ cao.

8. Toyota Celica GT-Four 1994

Theo yêu cầu của các quy tắc tương đồng, 2500 chiếc ô tô đường trường Toyota Celica GT-Four đã được chế tạo để Toyota có thể đua trong Giải vô địch đua xe thế giới World Rally Championship. Với động cơ 3S-GTE 2 lít tăng áp 4 xilanh thẳng hàng, dùng chung với MR2 Turbo, cung cấp 252 mã lực cho mẫu xe dành cho thị trường Nhật Bản, GT-Four là chiếc Celica mạnh nhất trên thị trường.

Sức mạnh được truyền thông qua hộp số sàn 5 cấp tới 4 bánh và hệ thống ABS 4 kênh được cung cấp tiêu chuẩn trên phiên bản xuất khẩu. Với trọng lượng 3064 pound, nó có thể chạy nước rút đến 100 km/h trong 6,1 giây và đạt tốc độ tối đa 246 km/h.

9. Toyota MR2 Mk3 1999

Khi được ra mắt vào năm 1984, thế hệ đầu tiên của MR2 là một chiếc xe thể thao và nhỏ chỉ nặng 2350 pound. Sau khi được thiết kế lại bao gồm việc tăng kích thước và trọng lượng vào năm 1989, MR2 Mk3 vào năm 1999 đã giảm trở lại trọng lượng nhẹ của thế hệ đầu tiên.

Với trọng lượng 2195 pound, Mk3 vẫn có thể di chuyển nhanh chóng dù công suất giảm xuống còn 138 mã lực. Với khả năng lái nhạy, khả năng xử lý nhanh nhẹn và chỗ ngồi thoải mái, MR2 Mk3 mang đến trải nghiệm lái rất hài lòng.

10. Toyota Celica Supra 1979

Celica Supra 1979 được phát triển để cạnh tranh với Datsun Z-car, và mặc dù dựa trên Toyota Celica Liftback, nó có phần mũi dài hơn. Với mặt trước được kéo dài ra, động cơ lớn hơn, loại I-6 2 lít cho công suất 123 mã lực hoặc loại I-6 2.6 lít cho công suất 110 mã lực.

Các tùy chọn hộp số có sẵn là hộp số sàn 5 cấp tiêu chuẩn và hộp số tự động 4 cấp tùy chọn. Celica Supra 1979 thiết thực, mạnh mẽ, đáng tin cậy, sang trọng và thú vị khi lái xe như một biểu tượng về những gì ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản có thể cung cấp.

Bản quyền thuộc về XecoV, đề nghị ghi rõ nguồn:

"EnterKnow & XecoV"

Khi sao chép nội dung. Xin Cảm Ơn!

Bạn nghĩ sao?

1.1k Points
Upvote Downvote
Expert

Được viết bởi Tất Tiến

Years Of MembershipUp/Down VoterContent AuthorEmoji Addict

Bình luận

Leave a Reply